Himalaya Yoga Slide 4 slide3 slide2 slide1

Phần 3: Phật giáo Tây Tạng (tiếp theo)

 

Phật dạy rằng con người là người thợ và người chủ của số phận mình, cách thức sử dụng đời sống hiện tại sẽ quyết định tương lai trong kiếp này hay các kiếp sau. Gieo gì sẽ gặt nấy, đã gieo tất phải có gặt. Theo Phật giáo, con người không chuốc lấy sự trừng phạt thiêng liêng, không mang gánh nặng của tội lỗi nguyên thủy nào cả, ngoài tội lỗi mĩnh đã tự tạo.

 

Con đường giải thoát đại đồng

Cũng như tất cả các tín ngưỡng vĩ đại, Phật giáo thừa nhận tính chất không mấy thỏa thích của cuộc đời, nên cổ súy một tình trạng cao hơn. Nhưng, tình trạng cao hơn này ở ngoài giới hạn của thiên nhiên, ngoài kiếp sống ở trần gian, trên trời hay địa ngục. Cũng như chúng sinh sống trên mặt đất ở trong trạng thái cao hơn là chúng sinh sống dưới nước, có những trạng thái cao hơn con người, như người cao hơn các động vật khác vậy.

Có những người bị trói buộc vào trần gian đến nỗi không muốn ở vào tình trạng ngoài phạm vi các giác quan. Họ giống như con cá khi có cơ hội lên sống trên mặt đất, lại thích kiếp cá hơn, vì cho rằng không có trạng thái nào khác cao hơn. Cũng có những người tưởng tượng sẽ được hạnh phúc vĩnh cửu khi nước trời thể hiện trên mặt đất, mà họ sẽ đạt được qua quá trình tiến hóa dần dần.

Đối với người giác ngộ, không có tình trạng sinh sống nào trong luân hồi, được hoàn toàn thỏa thích và vĩnh viễn. Cho nên đức Phật dạy con người không nên đặt hy vọng vào ảo ảnh trần gian, mà trước hết phải thoát khỏi luật nghiệp quả, rồi sau khi đạt tới ngưỡng cửa của Niết Bàn, theo đại hạnh từ bỏ của Bồ tát: không ra khỏi luân hồi khi còn chúng sinh chưa giải thoát như đức Phật.

Mọi cái đẹp, mọi điều lành, mọi sự hủy bỏ đau khổ hay vô minh đều phải hướng về cứu cánh vĩ đại đó. Bấy giờ khi được các đấng Đại Bi khai hóa về mặt tâm linh, trái đất này sẽ tiết lộ cho các lữ hành con đường vô tận đi về trung tâm của vũ trụ. Con người vượt qua thân phận người phàm tục sẽ siêu việt thiên nhiên, hợp nhất với các đấng giác ngộ, giúp đỡ mọi người hoàn tất luật đại tiến hóa mà Niết Bàn chỉ là khởi điểm.

 

Nếu từ buổi tiếp xúc đầu tiên giữa phương Tây và phương Đông, Phật pháp được trình bày đúng ý nghĩa của nó thì không có ý kiến thông thường về một Phật giáo bi quan và hư vô.

Bởi vì, thực sự Phật giáo có một tâm hồn vị tha cao cả và một niềm lạc quan vô hạn, mà không có hệ triết học hay tôn giáo nào vượt qua đươc. Hơn nữa, đó là gia tài để lại cho chúng ta, từ một đồng loại vốn là con trai của một gia đình hoàng tộc, không đòi hỏi một đặc quyền thiêng liêng nào cả, mà bảo ta rằng không phải vấn đề là tin hay không tin một thần linh tối thượng, mà là nỗ lực cá nhân trong điều thiện, tiến hóa tâm linh do tự mình điều khiển, theo Bát Chính đạo, cần thiết cho sự giải thoát. Và con đường đưa tới diệt khổ là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính niệm, chính định.

 

Như vậy, Phật dạy rằng con người là người thợ và người chủ của số phận mình, cách thức sử dụng đời sống hiện tại sẽ quyết định tương lai trong kiếp này hay các kiếp sau. Gieo gì sẽ gặt nấy, đã gieo tất phải có gặt. Theo Phật giáo, con người không chuốc lấy sự trừng phạt thiêng liêng, không mang gánh nặng của tội lỗi nguyên thủy nào cả, ngoài tội lỗi mĩnh đã tự tạo. Cũng như ở viện Đại học có nhiều trình độ, con người ghi danh bằng sự sinh ra, và lợi dụng những thời kỳ nghỉ hè là cái chết, mà đi lên từng cấp một, cho đến sự hoàn thiện cao nhất. Sau khi đạt tới quả vị Phật, người sẽ rời trường Đại học trần gian để đi làm việc trong vũ trụ mà người là một phần tâm linh có ý thức, một đấng giác ngộ, nhờ sự toàn tri của mình.

 

Công truyền và bí truyền

Cũng như hầu hết các tôn giáo khác, truyền thống tôn giáo Tây Tạng có hai khuynh hướng: CÔNG TRUYỀN VÀ BÍ TRUYỀN. Theo khuynh hướng công truyền, các tu sĩ phải sống trong tu viện, trì giới, học Kinh. Theo khuyng hướng bí truyền, người tu phải tìm nơi hoang vắng để đi sâu vào nội tâm.

Mặc dù mục đích của hai khuynh hướng là giải thoát, nhưng phương pháp thì không giống nhau. Tuy nhiên đối với người Tây Tạng thì không có sự phân biệt rõ rệt giữa hai khuyng hướng. Một số tu sĩ sau một thời gian sống trong tu viện, học hỏi qua kinh điển, họ đã tìm những chỗ hoang vắng tu theo bí truyền. Ngược lai, một số sau khi có một thời gian sống trong hang động, lại trở về tu viện học hỏi thêm. Tuỳ ý thức và trình độ cá nhân mà họ chọn khuynh hướng thích hợp.

Trên thực tế, tu theo khuynh hướng công truyền thí ít nguy hiểm hơn; đời sống đạo hạnh, nghiêm túc tuân giữ giới luật, hàng ngày tụng kinh, trì chú, thiền định, thanh lọc bản thân, tuy có hơi chậm mà chắc. Cái khuynh hướng bí truyền thường được coi là con đường tắt, rất nguy hiểm, không phải bất cứ ai cũng theo nổi.

 

Các danh sư Tây Tạng thường nói: "Có nhiều cách để leo lên đỉnh núi, như theo đường mòn vòng vo, hoặc trèo thẳng. Dĩ nhiên, chỉ có những tay thiện nghệ, có nhiều sức khoẻ, can đảm và liều lĩnh mới dám leo thẳng; lại còn tùy sợi dây có bền chắc hay không nữa. Trên đường đi, bất cứ lúc nào cũng có thể sẩy tay, trượt chân rơi xuống vực sâu tan xác. Cho nên tu theo bí truyền rất khó khăn và nguy hiểm, có thể đưa tới mạng vong hoặc sa vào tà đạo".

 

Có điểm quan trọng cần lưu ý là dù theo con đường nào, nỗ lực cá nhân vẫn là yếu tố then chốt; cá nhân phải tự cố gắng, chớ không ỷ lại vào người hay sức mạnh nào khác. Kinh Kanguyr viết: "Đức Phật chỉ là người soi đường, tất cả chúng sinh đều phải cất bước lên đường, phải tự thân nổ lực vào việc hành trì, cộng chung với khả năng và lòng kiên nhẩn của chính mình mà tiến bước".

Các vị Tổ hay các vị thầy chỉ là người đi trước, người dẫn đường, người giúp đỡ, chứ không phải là người cứu rỗi, đưa tới giải thoát. Trên đường đạo, tự lực và tha lực đi đôi, phải tự nỗ lực rồi sẽ được giúp đỡ khi cần, chẳng hạn như khi bị vấp ngã thì có thể được nâng đỡ, chứ không có ai cõng mình leo lên cả.

 

Ở tu viện, các tu sĩ phải trải qua các kỳ thi để có danh hiệu Lạt Ma, Đại Đức, Hoà Thượng hay Trưởng Lão. Còn các tu sĩ bí truyền phải qua các kỳ điểm đạo; việc này chỉ có thầy và trò mới biết mà thôi, nên rất dễ bị lợi dụng; một số người tự phong để dễ kiếm sống. Nếu chẳng may gặp thầy thuộc loại này thì có thể rơi vào chỗ tăm tối khó thoát ra, như leo núi mà gặp người dẫn đường kém khả năng thì cứ lần mò quanh quẩn, không sao tới đỉnh được. Cho nên vai trò của người thầy rất quan trọng. Ta không thể đi vào con đường bí truyền mà chẳng có thầy.

 

Phần lớn các đạo sư thử thách học trò rất kỹ trước khi truyền dạy. Trong việc huấn luyện, thầy hao tốn rất nhiều công sức, nên đa số thu rất ít học trò. Thầy phải theo dõi từng học trò để hướng dẫn đúng theo căn cơ, tiến bộ của mỗi người. Có trò theo thầy cả năm mà chưa hề được dậy bảo điều gì, lại còn bị đánh đập, mắng chửi nữa.

Ít khi thầy giảng nhiều người cùng một, mà chỉ hướng dẫn tuỳ theo khả năng của từng người, giao cho mỗi người một đề tài riêng, một bí quyết riêng biệt để quán tưởng tu tập, rồi tuỳ theo kết quả thẩm xét mà chỉ bảo tiếp. Có khi không dạy bằng lời mà  dạy bằng chính nếp sống của thầy.

 

Khi trò đã đạt tới trình độ nhất định nào đó, thầy cho vào nơi hoang vắng để nhập thất. Đối với người thường, thì đây có thể là một căn nhà riêng biệt, một căn phòng kín, hoặc một động đá. Đối người người tu cao, thì nó có thể là một cảnh giới nội tâm, chứ không hẳn là một địa điểm bên ngoài.

Lúc nhập thất, người tu phải sống cách biệt để thực hành một phương pháp nào đó. Họ không được tiếp xúc với người ngoài, phải phát nguyện tịnh khẩu; các cửa đều được đóng kín, thực phẩm được đưa qua một lỗ nhỏ. Thời gian nhập thất có thể kéo dài vài ngày đến một năm, chỉ có một số ít người mới nhập thất trong vài năm hoặc trọn đời.

Trong cảnh yên tĩnh, người tu tha hồ tham thiền, quán tưởng, nghiên cứu Kinh sách hoặc di dưỡng tinh thần. Đối với người thường thì sống đơn giản trong một hang động hay một am thất xây cất sơ sài là chán chường, dại dột, nhưng đối với người cầu giải thoát thì không thấy buồn chán hay cô đơn, lẽ loi. Họ cảm thấy một niềm an lạc tuyệt vời qua những buổi thiền định.

Tuỳ công phu hành trì mà họ chứng đắc. Nhưng đối với các bậc chân tu chân chính, chứng đắc không phải là một nhãn hiệu, nên ít người nhận ra, họ lại giả điên, giả dại để khỏi bị quấy rầy. Còn người chưa có chứng đắc lại khoe khoang ầm ĩ để có nhiều tín đồ.

 

Phương pháp quán tưởng

Có nhiều phương pháp tu hành như tụng kinh, trì chú, quán tưởng, thiền định; nhưng dù theo phương pháp nào, mục đích vẫn là giữ được ba nghiệp Thân-Khẩu-Ý được thanh tịnh để tiêu trừ vọng tưởng, đồng thời dùng năng lực của thần chú hoặc hồng danh chư Phật để phá tan nghiệp chướng hầu giải thoát.

 

Mật Tông là con đường tắt, vận dụng quán tưởng rất nhiều. Mà quán tưởng của Mật Tông Tây Tạng rất phức phạp, phải là người có tâm thành, cương quyết, dũng cảm và có trí tuệ mới mong thành công.

Quán tưởng là sử dụng trí tuệ lúc định tâm để chiếu soi vào một đề lục hay hình ảnh nhất định. Nếu tâm chưa định, trí tuệ chưa đủ thì không thể quán tưởng được, cố gượng quán tưởng thì chỉ là tưởng tượng hay tự kỷ ám thị mà thôi.

 

Có một Lạt Ma cho biết ông đã quan sát thật kỹ cánh rừng trước cửa hang, nhớ rõ từng cái cây, ngọn cỏ, cục đá từ bình minh đến hoàng hôn, rồi dùng hình ảnh trong tâm thật đúng với cảnh bên ngoài, ông bắt đầu quán tưởng từng chiếc lá rơi rụng đến khi cánh rừng chỉ còn là mảnh đất hoang, rồi những gò đất, tảng đá cũng mất đi, không còn lại thứ gì cả. Mục đích để nghiệm rằng tất cả do tâm tạo.

Có người chọn một cái cây làm để mục quán tưởng. Họ quan sát rất kỹ thân cây, cành cây, lá cây, hoa quả… rồi quán tưởng họ chính là cái cây đó, để làm sao kinh nghiệm được sự sống của cái cây, cảm thấy được nhựa cây từ rễ truyền lên cành, đi đến các mạch lá, hấp thụ ánh sáng… Sau khi trở thành cái cây, họ quán ngược lại người ngồi trước cái câu thân hình ra sao, sự sống theo từng hơi thở như thế nào… Mục đích thấy rằng tất cả chỉ là huyễn.

 

Thông thường họ quán tưởng tranh vẽ cảnh giới của chư Phật, có một vị Phật hay Bồ tát ở trung tâm với đầy đủ chi tiết, màu sắc. Họ bắt đầu từ hình ảnh trung tâm, rồi chuyển qua các hình ảnh kế bên, cứ thế mà lan ra toàn thể bức vẽ. Khi đã đi hết một vòng, họ lại quán tưởng các hình ảnh kia dần dần hòa nhập vào trung tâm, cuối cùng chỉ còn hình ảnh của Phật mà thôi. Hình ảnh này cũng tan biến dần từ chân lên tới đầu.

Hoặc họ quán tưởng một đóa hoa sen, từ bùn nhô lên, nở ra. Trên mỗi cánh hoa có một vị Bồ tát, giữa đài sen có một vị Phật. Hoa sen nở rộng ra với vô số Bồ tát, khắp mười phương. Sau đó hoa thu nhỏ lại, các cánh hoa búp lại, chỉ còn một vị Phật đứng trên đó với hào quang sáng chói, cuối cùng hoa sen tan thành một điểm linh quang; điểm sáng này cũng tan biến, để lại một điệu âm vang dội

 

Người Tây Tạng hay kể về những chuyện khôi hài. Có một thanh niên đến cầu đạo với một Lạt Ma ẩn tu. Thầy bảo đọc Kinh thì anh nói dài quá, dạy trì chú thì anh nói rắc rối quá, cho đề mục quán tưởng thì anh không hiểu. Thầy mới hỏi anh làm nghề gì, anh đáp là chăn bò. Thầy bèn nói: “Thế thì quán tưởng con bò là được”. Thanh niên đó đi tìm một động đá, ngày đêm quán tưởng con bò. Một thời gian sau, Thầy đến thăm học trò. Nghe tiếng thầy gọi, anh lật đật chui ra, nhưng cứ đinh ninh mình là con bò, anh chui ra không lọt. Anh bèn la lên: “Thầy ơi, cửa hang này chật quá làm vướng sừng của con”.

 

Tầm sư học đạo:

Một trong những đặc điểm của nền văn minh Tây Tạng là tầm sư học đạo và sưu tầm mật lý. Truyền thống xứ này có rất nhiều giai thoại về tầm sư học đạo đầy gian nan thử thách.

Sau đây là vài câu chuyện do bà Alexandra Neel kể lại:

 

Tilopa

Là một trong những vị tổ quan trọng của Mật Tông. Tuy sống ở Ấn Độ, chưa hề bước chân vào Tây Tạng, nhưng ông được coi là một vị tổ của phái Kargyutpa.

Ông là một học giả uyên thâm, thắng nhiều cuộc tranh luận về tôn giáo ở Ấn Độ. Một hôm ông đang đọc sách thì có một người hành khất đi qua. Bà lão liếc qua cuốn sách trên tay ông, nói: “Đọc say mê như thế mà có hiểu được một chút gì không?” Chưa kịp đáp lại, bà lão đã phun nước bọt vào quyển sách và khinh bỉ: “Một mớ từ chương vô dụng như thế mà cũng coi là quan trọng”. Tilopa nổi giận, định dạy bà ta một bài học thì bà đã bỏ đi. Không hiểu sao cơn giận lại nguôi, thay vì đuổi theo, ông cảm thấy có gì không ổn trong việc học hỏi của mình. Ông quyết định lên đường tìm bà lão hành khất để hỏi cho ra lẽ.

 

Qua nhiều năm lang thang tìm kiếm, ông gặp bà lão trong một khu rừng. Cuộc đối thoại rất lý thú, ông đem hết sách vở học ra biện luận nhưng không sao đáp lại được các câu chất vấn của bà lão. Bấy giờ, ông mới vỡ lẽ rằng cái học từ chương theo sách vở chỉ đem lại cái hiểu biết hời hợt bên ngoài, chứ không thể giải thích thấu đáo những vấn đề huyền vi, sâu kín sự việc. Lý luận chỉ là cái biết tổng hợp của người khác. Cái biết thật sự chỉ có thể có khi ta kinh nghiệm chứng đúng như hiện trạng. Ông chịu thua và quỳ xuống xin bà lão chỉ thêm cho. Bà lão nói: “Điều ta hiểu biết không có trong sách vở vì đó là thứ hiểu biết không giới hạn. So với những điều ngươi học qua sách vở từ chương vốn có giới hạn thì khác nhau rất xa. Ta xem căn cơ người có thể học được nhiều điều có ích, nhưng muốn quán triệt giáo pháp Thượng thừa, ngươi phải tìm đến cảnh giới các thiên nữ Đaikini. Đây là một hành trình hết sức gian nan và nguy hiểm, có hàng ngàn thử thách chờ đợi; không những người phải vượt qua mà còn phải biết cách khắc phục chúng nữa. Nếu ngươi quyết tâm thì ta truyền cho một bí quyết. Phải làm chủ toàn hoàn toàn thân-khẩu-ý bằng cách niệm chú, bắt ấn và nhập định. Ngươi phải giữ gìn điều này trong suốt hành trình, nhờ giữ ấn quyết mà thân nghiệp được tịnh, nhờ niệm chú mà khẩu nghiệp được tịnh, nhờ quán tưởng vào mà tam ma địa mà ý nghiệp được tịnh, không bị các vọng tưởng lôi cuốn”.

 

Tilopa vào nhập thiền trong một hang động để tìm đến cảnh giới Đaikini. Qua bao gian nan và thử thách, sau cùng Tilopa đến nơi và giao hòa với thiên nữ (ám chỉ hòa nhập vào bản thể chân như giác ngộ chân lý).

 

Naropa

Là một đạo sĩ Bà la môn nổi tiếng học rộng tài cao. Xuất thân dòng dõi quý tộc, ông thường được vua chúa mới đến tham khảo ý kiến. Một hôm, có một vị tiểu vương bất đồng ý kiến và sỉ nhục ông nặng nề. Quá tức giận, Naropa nhập thất, định dùng khả năng huyền thuật của mình trù yểm cá nhân, gia đình và cả thần dân của tiểu vương đó. Bỗng nhiên, một bà lão xuất hiện cảnh cáo việc ông sắp làm, cho ông thấy luật nhân quả gieo chi gặt đó. Ông xin bà lão dạy phương pháp chuyển nghiệp, và bà lão chỉ ông đi tìm đạo sư Tilopa.

 

Naropa mất một thời gian dài mới gặp Tilopa trước một ngôi chùa. Lúc đó, Tilopa chỉ quấn một cái khố rách, thân mình bẩn thỉu, đang ngồi chòm hỏm đánh vảy cá. Dĩ nhiên Naropa không biết Tilopa nên khi thấy một người hạ tiện chắn lối, ông tránh ra xa, vì một người Bà la môn cao quý không bao giờ đứng gần người hạ tiện hoặc để bóng người đó chạm vào mình. Bấy giờ, các sư trong chùa bước ra, quát mắng Tilopa đã làm ô uế nơi thờ phụng tôn nghiêm. Tilopa cười: “Các ngươi hãy chỉ cho ta chỗ nào không tôn nghiêm để ta vất đồ dơ vào đó?. Các sư không cãi được, bèn chỉ trích ông về tội sát sinh. Ông thản nhiên: “Ai bảo ta sát sinh?” Ông khẽ vỗ tay, con cá nhảy xuống sông lội đi mất. Naropa giật mình, nhưng vì thể diện, ông không đả động đến người hành khất, mà chỉ đến hỏi các sư. Được biết tên ăn mày đó là Tilopa, ông vội quay lại thì Tilopa đã đi mất.

 

Naropa qua nhiều làng mạc, đô thị, hầu như chỗ nào ông đến, người ta cũng nói rằng Tilopa vừa ghé qua đó. Đây là một giai đoạn thử thách hết sức lý thú. Có lúc vào quán ăn, ông được hầu bàn dọn một hũ rượu, vốn là cấm kỵ đối với giai cấp Bà la môn; có lúc qua đò, ông được yêu cầu mổ thịt dùm một con heo, con vật được coi là dơ bẩn theo phong tục; tất cả những sự kiện trên đều là sỉ nhục đối với Naropa, khi ông nổi giận thì chỉ nghe tiếng cười sảng khoái của Tilopa vọng lại. Trải qua nhiều kinh nghiệm chua cay, ông chuyển tâm thức, thay vì phân biệt giai cấp này nọ, ông coi mọi người, mọi sinh vật đều là Tilopa mà kính trọng tất cả. Gặp ai ông cũng cung kính chắp tay đảnh lễ. Lúc đầu, đó là một sự khó khăn lớn lao đối với một con người kiêu hãnh như ông. Nhưng với lòng khao khát cầu đạo giải thoát, ông đã cung kính đối với mọi người, từ gã lái buôn bình thường đến kẻ hốt phân bẩn thỉu, từ kẻ đồ tể đến tên ăn mày. Nhờ thế, ông đã quán triệt được thực tánh của mọi vật; thấy Phật tánh ở mọi người, đó là điểm then chốt trong phật pháp mà ông truyền dạy cho đệ tử sau này.

 

Một hôm, Naropa đi qua một giàn hỏa thiêu người chết, mùi hôi thối bốc ra nồng nặc. Thấy một xác chết đen thui nằm trên giàn hỏa, ông bước tới đảnh lễ thì nghe tiếng cười quen thuộc của Tilopa. Ông chạy đến, quỳ xuống, đặt chân của Tilopa lên đầu mình và làm lễ bái sư.

Trong nhiều năm, Naropa theo thầy như bóng với hình nhưng vẫn không học được điều gì cả, mà còn bị đối xử bất công, khi thì bị chửi mắng, khi thì bị đánh đập, nhưng vẫn một một lòng một dah kính thầy.

 

Một hôm Naropa đi khất thực, mang về một hũ cari rất ngon. Tilopa ăn hết sạch, lại tỏ ra còn thèm, ra lệnh Naropa đi xin thêm. Naropa trở lại căn nhà vừa cúng dường, nhưng cả nhà đều đi vắng, chờ mãi sợ thầy đói, ông múc đại một chén cari mang về, chẳng may bị chủ nhà bắt gặp, đánh cho một trận tơi tả. Naropa mang thân thể bầm tím trở về, lại bị thầy quát mắng: “Cái gì? Việc nhỏ như thế mà làm không xong. Chắc mi hối tiếc vì đã thờ ta làm thầy chứ gì?”. Naropa thu hết tàn lực trả lời: “Thật là một hân hạnh lớn lao cho con được thầy nhận làm đệ tử, dù có hy sinh cuộc đời cũng không hối hận”.

Có lần đi khất thực về trễ, Naropa bị thầy đâm xiên nhọn vào thịt, rồi bỏ mặc đó nhiều ngày. Lúc xuất định, Tilopa hỏi có hối tiến theo ông hay không, thì Naropa nhất định tìm đạo giải thoát với bất cứ giá nào. Tilopa cười, rồi lại bày đặt những trò kì cục như bắt uống nước công, lăn mình vào lửa, dẫm lên than cháy, treo mình trên cây.v.v…

Một hôm ngồi tịnh trước đống lửa, bỗng nhiên Tilopa quất giày mạnh vào mặt Naropa, ông thoát nhiên đại ngộ.

 

Từ đó, ông nổi tiếng, được mời làm viện chủ viện Phật học NALANDA. Sau một thời gian giảng dạy, lúc tuổi đã cao, ông lên Tuyết sơn nhập thất 12 năm liền, sáng tác các pháp Yoga kiện toàn thể chất, khai mở thần mạch và tâm linh (sẽ được trình bày ở phần sau).

Các pháp môn này đã được Naropa truyền lại cho đệ tử xuất sắc của ông là Marpa và đã làm rạng danh cho dòng tu Kargyutpa

 

Marpa

Là người Tây Tạng sang Ấn Độ du học, rồi về nước truyền bá Phật pháp, lập ra dòng tu Kargyutpa. Ông là dịch giả nổi tiếng, đã phiên dịch rất nhiều Kinh điển thu thập tại Nalanda. Công trình của ông rất lớn lao, người Tây Tạng gọi ông là “Marpa dịch giả”. Ông có dạy một số đệ tử, trong đó có Milarepa nổi tiếng nhất với các bài hát đi dâu vào âm nhạc xứ này.

Naropa là vị thầy hiền lành, đối xử tử tế với học trò. Còn Marpa là người nóng tính, hung dữ không thua gì Tilopa. Tuy nhiên, sự nóng nảy, hung dữ của hai ông này không phải là vô cớ, mà được xem như một phương pháp dạy dỗ nhằm kích động tâm tư của học trò, để hướng dẫn họ vào con đường mong muốn. Câu hét hay hành vi đáng đập của Tilopa hay Marpa không xuất phát từ một cái tâm an tĩnh,một trí tuệ sáng suốt nhìn thấu tâm tư và trình độ của học trò, nên lấy đó làm phương tiện khai tâm, mở trí cho những người mà phương pháp giảng dạy bình thường có lẽ sẽ không có hiệu quả.

 

Milarepa

Xuất thân từ một gia đình khá giả, nhưng chẳng may cha chết sớm, chú lợi dụng cơ hội sang đoạt tất cả gia tài, đẩy mẹ con Milarepa vào tình trạng khốn khổ cùng cực. Lòng căm thù dâng cao, Milarepa bỏ nhà theo các đạo sĩ học huyền thuật. Khi thành tài, ông đã thẳng tay trừng trì những kẻ đã đối xử tệ bạc với ông. Ông đã giết chết mấy chục người và phá hoại mùa màng của dân chúng trong vùng.

Sau khi trả thù, ông cảm thấy lương tâm bất an, nên lên đường tầm sư học đạo cầu giải thoát. Ông đến với nhiều đạo sư, nhưng không ai giúp được vì nghiệp của ông quá nặng, pháp môn nào cũng không chuyển được các tội đã gây để đem lại niềm an tĩnh mong ước.

 

Sau cùng, ông đến với Marpa. Ông bị thử thách nhiều phen, bị đối xử rất tệ bạc. Ông phải xây một căn nhà bằng đá, nhưng phải làm bằng tay, mỗi lần sắp hoàn thành công tác, Marpa lại đổi ý, bắt ông phá đi và xây lại nhà khác. Sau nhiều lần phá đi, làm lại như thế, và sau bao lần thử thách khác, Marpa mới thu nhận ông và truyền cho các bí pháp.

Với một ý chí phi thường, Milarepa nhập thất thiền định suốt nhiều năm, đói thì ăn rong rêu trên đá, khát thì uống nước đọng trên lá cây, da thịt trở nên xanh tái, ốm như da bọc xương, râu tóc dài như quái vật. Ông còn bị các thợ săn, kẻ dữ trêu chọc, đánh đập nhưng không hề phản ứng, chỉ cầu nguyện cho họ. Mỗi khi quán triệt điều gì, ông thường làm thơ, soạn bài hát.

 

Milarepa là người luyện thành công lửa Tâm muội (Tummo). Chỉ quấn có một tấm vải mỏng, mà ông có thể chịu đựng khí hậu khắc nghiệt. Về sau, các môn đồ của ông cũng luyện lửa Tam muội và quấn vải (Repa) nên phái Kargyutpa còn được gọi là phái áo vải.

Người Tây Tạng thường coi công phu tầm sư học đạo của Naropa, Milarepa như những tấm gương sáng. Một người Âu, dù có lòng khao khát chân lý đến đâu đi nữa, cũng khó có thể chịu đựng những thử thách dường như vô lý và khắc nghiệt như vậy. Có người tỏ vẻ nghi ngờ, cho rằng dân Tây Tạng phóng đại câu chuyện để tăng vẻ huyền hoặc hay đề cao các vị tổ của họ. Thực ra, việc tầm sư học đạo gian nan và khắc nghiệt vẫn còn tiếp diễn đến thời hiện đại. Bà Alexandra Neel đã chứng kiến nhiều đứa trẻ nhỏ phải nhịn đói quỳ trước cửa tu viện nhiều ngày để thử thách lòng cầu đạo của chúng. Sau khi được thu nhận, chúng phải lao động vất vả, như dậy sớm để gánh nước trong gió lạnh thấu xương, lau chùi chánh điện cho sàn gỗ bóng như gương. Đứa nào cẩu thả thì bị phạt đòn, quỳ hương hay đuổi ra khỏi tu viện. Sở dĩ họ tự nguyện chấp nhận các thử thách này, vì họ đánh giá cao pháp môn bí truyền, sẵn sàng trả giá có khi bằng tánh mạng của mình để học.

 

Yeshe Gyatso

Là một tu sĩ tốt nghiệp từ một trường đại học Phật giáo nổi tiếng nhưng không hài lòng về kiến thức của mình. Ông nhập thất nhiều măn để suy ngẫm về những điều đã học nhưng vẫn không thỏa mãn. Thấy vậy, một Lạt Ma Trưởng Lão khuyên ông đi tìm một đạo sĩ ẩn cư trên núi để học hỏi.

Cuộc hành trình gian nan vì phải băng qua một sa mạc và leo lên đỉnh núi cao. Đến nơi, ông quỳ trước cửa động, xin được thu nhận nhưng vị đạo sư không trả lời. Ông tìm chỗ tạm trú gần đó, rồi ngày nào cũng đến cửa động làm lễ xin học đạo. Sau đó hai tuần, vị đạo sĩ đuổi ông về. Trên đường về ông gặp bão tuyết nên phải mất mấy tuần mới về được tu viện.

 

Nghỉ ngơi ít lâu, ông trở lại hang động xin học nữa. Vị đạo sĩ lại quát đuổi ông về. Cứ thế suốt hai năm, ông đến xin học, rồi bị đuổi về. Một ngày kia, đạo sư nói: “Gã ngu xuẩn kia, sao ngươi không đi tìm các danh sư ở Lhassa, các học giả uyên thâm ở Kalimpong? Một kẻ già nua, dốt nát và vô dụng như ta biết gì mà dạy. Ngươi có theo cũng phí công thôi”. Nhưng Yeshe thành khẩn xin theo học, cuối cùng đạo sư hỏi: “Tại sao ngươi nghiên cứu Kinh điển, nhập thất tọa nhiều năm mà vẫn còn mù mịt? Ngươi thắc mắc gì?” Yeshe đáp rằng ông ngồi yên tập trung vào câu chú, giữ cho thân khẩu ý không rồi loạn mà sao chưa chứng được gì cả. Nghe đến đó đạo sư mắng ngay: “Ngươi quả thật tham lam, còn cầu chứng đắc thì làm dao chứng đắc được. Ngươi đọc Kinh mà không biết ý của Kinh, tâm ngươi tham lam như vậy quả là muốn nấu cát thành cơm, muôn năm không bao giờ được. Ngươi phải biết rằng còn thấy có phương pháp mà tu, còn thấy có quả vị để chứng, còn thấy ngồi yên lặng tọa thiền là còn chấp vào hình tướng bên ngoài, phải buông bỏ những cái chấp đó đi mới được”.

Ông hỏi: “Sách vở chỉ rất kỹ về phương pháp tọa thiền, hít thở, quán tưởng và con đã nhập thất tu luyện như thế trong nhiều năm rồi, bây giờ bỏ hết đi thì sao đây?”

Đạo sư đáp: “Đừng tưởng phải ngồi yên lặng niệm chú mới là thiền, mà phải biết rằng đi, nằm, ngồi, ăn uống, nói chuyện đều phải thiền cả. Điểm chứng yếu là giữ sao cho tâm lúc nào cũng an nhiên tự tại, không để các vọng tưởng lôi cuốn, không để thâm, sân, si chi phối, tự nhiên tùy thuận theo đời sống, tâm không xao động là được. Không cần phải nhập thất tĩnh tu, không cần cố gắng thái quá để đạt một cái gì, mới là thiền. Trái lại, ngươi phải biết sống tự nhiên như một người bình thường, khi ăn biết mình mình đang ăn, khi uống biết mình đang uống, khi tham biết mình đang tham, khi giận biết mình đang giận. Gặp việc thuận ý không kiêu, gặp việc nghịch ý không nản, lúc nào cũng ý thức giữ tâm bình thản, đó mới là thiền định. Ngươi hãy xuống chân núi sống bới bọn mục đồng một cách tự nhiên, hàng ngày đốn củi, xách nước, chăn dê và thực hành lời ta dạy”.

 

Yeshe làm y theo lời thầy dạy, một thời gian sau tự nhiện quán triệt những điều thắc mắc trước đây. Ông trở thành một Lạt Ma nổi tiếng và giúp đỡ nhiều người.

 

Karma Dorje

Xuất thân từ một gia đình nghèo, ông được cha mẹ gứi vào tu viện vì không có đủ tiền nuôi. Ông gầy yếu, có tật ở chân nên thường bị bạn bè chế nhạo, bắt nạt, đôi khi đánh đập nữa. Khi ông lớn lên, họ bảo nhau tránh né, không tiếp xúc hay nói chuyện với ông. Các nghịch cảnh này hun đúc cho ông một đức tính chịu đựng phi thường. Ông quyết định phải vượt qua các bạn đồng môn, khiến họ phải tâm phục mới được.

Năm lên mười tám tuổi, ông xin vị trụ trì cho phép ông nhập thất trên núi. Được chấp thuận, ông tìm một động đá, nỗ lực luyện lửa tam muội (Tummo). Ông chuyên tâm tập luyện, quên cả ăn ngủ. Một thời gian sau, ông có thể cởi trần, ngồi giữa tuyết lạnh, làm nhiều người phải thán phục. Tuy nhiên, ông thấy chưa đủ, nên sau hai năm tập luyện ông lên đường tầm sư học đạo thêm.

 

Sau một thời gian dài đi lang thang khắp nơi mà không tìm được thầy vừa ý, ông lập đàn cầu nguyện. Bỗng nhiên, nước từ trên đỉnh núi tràn xuống, cuốn ông trôi đi. Tỉnh dậy, ông thấy mình ở trước một cái am nhỏ. Đang ngơ ngác thì ông thấy một chú tiểu gánh nước từ suối lên. Ông hỏi thì được biết cái am đó là của Lạt Ma Tobsgyais. Tin rằng mình đã được thần linh dẫn dắt gặp đúng thầy, ông nói một cách kiêu ngạo: “Phiền chú vào báo Lạt Ma biết rằng chư thiên hộ pháp đưa đến cho người một đệ tử”.

Được chú tiểu báo tin, Lạt Ma Tobsgyais bước ra ngoài xem. Karma Dorje bèn kể lại câu chuyện của mình. Nghe xong, Lạt Ma hỏi: “Chỗ ngươi lập đàn cách đây khá xa, mà ngươi đến được cũng là lạ. Nhưng sao người xuất gia lại chẳng mặc quần áo?”

Ông đáp: “Nhờ luyện lửa tam muội thành công nên chẳng cần quần áo”.

Lạt Ma bảo chú tiểu: “Được, tiểu đồng mau đưa gã này xuống bếp, lấy quần áo ấm cho gã mặc và đốt lò sưởi lên, kẻo gã đã chịu lạnh mấy năm nay rồi”. Nói xong, ông quay lưng bỏ đi.

Dorje rất ngạc nhiên, nhưng cũng mặc quần áo và đến ngồi cạnh lò sưởi. Chú tiểu dọn cơm cho ông ăn và cho biết Lạt Ma chấp nhận cho ông ở.

 

Suốt một năm, Dorje theo chú tiểu xách nước, bổ củi, lao động thông thường trong am, nhưng không được gặp Lạt Ma học hỏi gì cả. Ông theo yêu cầu chú tiểu nhắc thầy, nhưng Lạt Ma vẫn im lặng.

Mùa đông năm đó, có một hóa thân ghé thăm Lạt Ma. Gặp Dorje, ông hỏi thăm và được kể lại câu chuyện từ đầu tới cuối. Ông bèn hỏi: “Vậy ngươi muốn học điều chi?” Dorje đáp: “Tôi muốn cầu pháp thượng thừa như bay trên không, hô phong hoán vũ, phát hào quang sáng chói cho mọi người nể phục”.

Khi vị hóa thân lên đường trở về, ông nói với Dorje: “Ta đã nói chuyện với Lạt Ma Tobsgyais về việc ngươi muốn học huyền thuật, nhưng ngài không có các bộ Kinh đó, nên không dậy ngươi được. Bên chùa ta có thứ đó, nên ngài cho phép ngươi theo ta”.

Karma Dorje mừng rỡ, chạy vào lạy từ biệt Lạt Ma, xong theo vị hóa thân lên đường. Đến nơi, ông được đưa lên núi, ở trong một tịnh thất nhỏ, có đầy đủ sách vở ông cần. Ông miệt mài tu luyện một cách tinh tấn, dần dần thấu triệt lẽ huyền vi. Một ngày kia, Lạt Ma Tobsgyais gởi cho ông một thông điệp: “Hãy buông bỏ tất cả”. Ông đọc đi đọc lại mãi mà không hiểu ý. Đêm đó, ông ngồi thiền, thấy mình bay bổng trên không trung nhìn xuống một đại dương tràn đầy ánh sáng.

 

Một ngày kia, trong cơn thiền định, ông thấy ông bay về nơi tu viện cũ. Cùng các bạn bè ngày xưa làm những công việc thường lệ, cũng có các đứa trẻ mới gia nhập tu viện bị bắt nạt, hành hạ, ngược đãi theo trò “ma cũ bắt nạt ma mới” trước đây. Nhìn họ, ông cảm thấy thương hại vì họ lao động, tụng Kinh như bộ máy, không biết đường giải thoát ra khỏi các hệ lụy của trần gian; họ vẫn còn tham, sân, si, vẫn đau khổ, vẫn tạo nghiệp để rồi gánh chịu hậu quả. Ông nghĩ lại công phu của mình, ước vọng của mình, thấy tất cả chỉ là bọt nước, bóng mờ, không có nghĩa lý gì cả nếu chỉ nhằm phục vụ bản ngã. Bất chợt, ông nghĩ đến thông điệp của thầy: “Hãy buông bỏ tất cả” mà giật mình tỉnh ngộ.

 

Karma Dorje thấy lòng mình thay đổi hẳn. Mọi ân oán đều tiêu tan. Khi tâm đã lặng yên, ông chỉ còn thấy tình thương bao la như biển cả. Ông lẳng lặng nhóm lửa, nấu trà và rút dao cắt bộ tóc dài của mình ném vào đống lửa.

Ông xuống núi từ biệt vị hóa thân thì được biết Lạt Ma Tobsgyais đã viên tịch từ sáu tháng trước. Ông cúi đầu làm lễ tạ ơn rồi lên đường trở lại am thất xưa. Chú tiểu ngày trước nay đã lớn tuổi, đưa ông tấm áo cà sa, nói: “Trước khi viên tịch, thầy bảo sẽ có ngày huynh trở lại, khi đó hãy trao tấm áo này cho huynh làm tin”.

Lạt ma Karma Dorje bùi ngùi nhận áo và từ đó ông tiếp tục công việc nghiên cứu và chú giải Kinh điển của thầy.

Đăng ký học
Họ tên
Số điện thoại
Lưu ý của học viên