Himalaya Yoga Slide 4 slide3 slide2 slide1

Phần 4: Các môn Yoga của Naropa (tiếp theo)

 

SÁU BÀI TU TẬP TÂM LINH

 

1 – LỬA TAM MUỘI (TÙMMO)

Đây là một trong sáu pháp du già của Naropa. Hãy thử tưởng tượng giữa mùa đông giá rét, khoảng âm mười độ, ngồi trong một động đá cao vài ngàn thước so với mặt biển, chỉ mặc đơn sơ một cái áo mỏng, vì họ biết phương pháp luyện lửa Tam muội.

 

Lửa tam muội nghĩa là một ngọn lửa huyền bí, hay một năng lực bên trong, có nhiều trình độ khác nhau. Người Tây Tạng nghiên cứu phương pháp này rất thấu đào, biết rõ tính chất, công dụng và hiệu quả của nó.

Đại khái, người ta dùng hô hấp kích động các bí huyệt trong cơ thể, để lúc nào cũng cảm thấy ấm áp như được khoác một bộ áo dày, mà người Tây Tạng gọi là “mặc áo tiên”. Ngoài ra, còn phải biết cách nhập định, để cảm thấy thân tâm thoải mái, an lạc, dễ chịu, mà họ gọi là “sống trong tiên cảnh”. Cao hơn nũa, hành giả hướng dẫn lửa đó theo thần mạch lên đỉnh đầu, để phát huy các quyền năng đặc biệt, mà họ gọi là “Nhập Tam Muội”.

Cũng như khinh công, luyện lửa tam muội là một phương pháp bí truyền, phải có thầy chỉ dạy, chứ không thể học theo sách được. Vị thầy phải đã luyện thành công lửa Tam muội, để biết rõ các nguy hiểm trên đường tập luyện, vì một sai lầm có thể đưa đến điên loạn hay tử vong. Hành giả phải có một thân thể cường tráng, mới có thể khắc phục được những khó khăn vật chất trong bước đầu.

Cũng như mọi phương pháp bí truyền, người ta thường thêu dệt nhiều điều huyền hoặc, khó kiểm chứng. Tuy nhiên, đằng sau những điều khó tin này, vẫn ẩn tàng một cái gì đó cần gạn lọc để tìm ra tinh hoa ở bên trong.

 

Nói đến lửa tam muội, người ta liên tưởng ngay đến môn phải Kargyutpa và Milarepa, một vị tổ đã luyện đến mức thành công tối thượng. Milarepa có rất nhiều đệ tử, trong đó có một người tên Rechung. Rechung được thầy truyền dạy lửa tam muội ngay sau khi nhập môn. Tuy nhiên, vốn là một học giả, quen sống trong môi trường từ chương sách vở, nên ông vẫn còn chấp ngã, chấp pháp, chuộng hình tướng bên ngoài. Có lần ông hỏi Milarepa, đã nổi tiếng như thế sao không tìm một ngôi chùa thật to mà ở cho xứng đáng, sống chỉ trong một hang động hẻo lánh. Milarepa trả lời đối với ông thì một cung điện hay một hang đá là như nhau, nhưng Rechung không đồng ý. Một lần khác, ông đề nghị thầy ra chốn thành thì thuyết pháp độ sinh, nhưng Milarepa trả lời đó là việc của người khác chứ không phải việc của ông. Rechung cảm thấy buồn, vì vẫn nhớ tới thế giới bên ngoài với các buổi tranh luận về giáo lý, những buổi đăng đàn thuyết pháp, những tràng pháo tay tán thưởng, những y phục sang trọng của các Trưởng Lão, những yến tiệc linh đình. Cuối cùng, Rechung rời bỏ núi rừng, bất chấp lời khuyên của Milarepa :” Chưa độ được mình thì không thể độ được người”.

Rechung đến Lhassa thuyết pháp và được nhiệt liệt tán thưởng. Ông có tài hùng biện, sức hấp dẫn quần chúng. Nên chẳng bao lâu được coi là thánh tăng. Ông đi khắp Tây Tạng thuyết pháp, trạnh luận và đánh bại các học giả uyên bác nhất. Danh tiếng ông nổi như cồn, nhiều bậc quý tộc mời ông đến thuyết pháp.

Một tiểu vương đãi ông như thượng khách, xây cho ông một ngôi chùa lớn, và gả con gái duy nhất cho ông ( Sự kiện này xảy ra trước sự chấn hưng phật giáo của Tsong Khapa, bấy giờ các Lạt Ma được lập gia đình ). Cuộc đời hôn nhân của Rechung đầy cay đắng. Bà vợ vừa hung dữ vừa thô tục, bà ỷ thế giàu sang mà đàn áp ông luôn, đốt sách vở của ông, đánh đuổi bạn bè của ông, cấm ông đi thuyết pháp, bắt ông mưu lợi vật chất. Tuy mặc y phục Trưởng lão lộng lẫy, sống trong chùa to lớn, được mọi người ca tụng, nhưng ông không hạnh phúc. Đến một ngày kia, bà vợ cầm gươm chém ông sau một cuộc cãi vã. Rechung ôm vết thương bỏ chạy, nhưng thay vì máu, ông lại thấy một dòng nước trắng đục chảy ra ướt cả áo. Đó là nhờ ông luyện lửa Tam muội, máu trong người đã biến thành tinh chất. Khi đó, ông chợt tỉnh ngộ nhớ đến thầy và các bạn. Ông lập tức từ bỏ tất cả, tìm về chốn cũ chăm chỉ tu hành, sau đó trở thành một đệ tử lớn của Milarepa.

 

Theo kinh điển Tây Tạng, có nhiều cách luyện lửa tam muội. Mỗi phương pháp lại có nhiều trình độ từ thấp đến cao, phần lớn bắt đầu từ luyện thở, rồi tới kiểm soát tư tưởng.

Thông thường, môn sinh tập ngồi cho thật vững vàng, thoải mái. Cách ngồi phổ biến là kiết già hoặc bán già. Tuy nhiên, các thầy nhận thấy cách ngồi bán già không được quân bình., hơi ấm dễ bị thoát ra ngoài, cho nên chỉ cho môn sinh ngồi kiết già, vì nó duy trì được tư thế quân bình và ổn định nhất.

Sau khi tập ngồi thuần thục, chân tay hết nhức mỏi thì bắt đầu tập thở cho thật đều, thật sâu trước khi hít thở theo nghi thức. Như vậy, môn sinh ngồi thế kiết già bắt chéo hai chân, bàn tay đặt lên đầu gối, ngón cái, ngón trỏ và ngón út thẳng ra, ngón giữa và ngón áp út thu vào lòng bàn tay. Thoạt đầu, họ thơ cho thông hai lỗ mũi, sau đó tập trung tư tưởng vào hơi thở. Khi thở ra, họ quán đang xả bỏ các tính xấu như tham lam, ích kỷ, ngạo mạn, sân hận và si mê. Khi hít vào, họ quán đang thu vào những đức tính tốt như từ, bi, hỷ, xả, thanh tịnh, vô ngã, lợi tha… Tiếp theo, họ hít vào, dồn khí xuống bụng, nín thở trong một thời gian ngắn, trước khi từ từ thở ra. Cứ tập như thế đến khi cơ thể hoàn toàn buông lỏng, tâm trí dứt hết các nỗi lo lắng, ưu phiền, hoàn toàn thoải mái tự tại. Giai đoạn này rất quan trọng, các thầy dựa trên công phu hành trì mà quyết định thu nhận học trò hay không.

 

Sau đây là một trắc nghiệm. Lạt Ma Kyanga luyện thuần phục khí công. Ai cũng tin ông được điểm đạo truyền pháp, nhưng vị Trưởng Lão chuyên về lửa tam muội lại từ chối. Đa số các thầy không nói rõ lý do từ chối, khiến học trò hoang mang. Lạt Ma Kyanga nhập thất thêm một thời gian, đến khi để một tờ giấy trước lỗ mũi, mà tờ giấy không lay động. Bấy giờ, ông đến xin truyền pháp. Vị Trưởng Lão cho ông ngồi thiền trọn ngày trong một căn phòng. Trước khi bắt đầu Lạt Ma Kyanga yêu cầu lão nhắc lại điều kiện thử thách và vị Trưởng lão xác nhận chỉ cần ngồi trong phòng đủ một ngày là được. Khi ông sắp bước vào phòng, vị Trưởng Lão quăng ba con rắn hổ mang vào đó. Lạt Ma Kyanga thản nhiên bước vào, không hề sợ hãi, và toạ thiền suốt ngày. Hôm sau, ông lại bị từ chối, vị Trưởng Lão giải thích: “Làm sao một người như ngươi có thể đi xa hơn nữa được! Có rắn độc trong phòng mà không đuổi ra, cứ ngu si đâm đầu vào đó nhập định thì công phu có cao siêu đi nữa cũng không có ích lợi chi cả. Ngươi chỉ chú trọng điều khí chứ không để ý điều tâm, ngươi luyện khí công giỏi nhưng chẳng quan tâm tới việc trừ khử vọng niệm, dứt tuyệt tham sân si, tu hành như thế được ích lợi gì? Cho nên ngươi không xứng đáng học giáo pháp thượng thừa lửa Tam muội”.

Lạt Ma Kyanga mới vỡ lẽ rằng ba con rắn đó tượng trưng cho tham sân si. Cuộc thử thách chấm dứt, ông không vượt qua được.

Nếu vượt qua thử thách, được chấp nhận cho làm lễ điểm đạo truyền pháp, hành giả sẽ bỏ bộ áo dày, chỉ khoác một tấm vải mỏng (Repa). Từ đó, họ không ngồi gần lửa, tìm đến nơi hoang vu, thang vắng, có độ cao bốn ngàn thước để hít thở không khí trong lành. Bí kíp ghi rõ “Không được tập luyện trong nhà cửa, xóm làng, vì không khí ở đó bị ô nhiễm củi lửa, có những rung động không tốt, ngoại cảnh làm xáo trộn tâm trí của hành giả”. Hành giả sẽ sống cô đơn ở nơi hoang vu, tập luyện theo phương pháp chỉ dạy

 

Công phu tu luyện gồm có ba phần:

-Sơ khởi

-Cơ bản

-Ứng dụng

Phần sơ khởi có năm bài tập:

-Quán thân trống không

-Quán hệ thần kinh trống không

-Quán vòng bảo vệ

-Quán các luân xa

Phần cơ bản có ba bài tập:

-Sản sinh lửa Tam muội bằng khí công và tham thiền

-Kinh nghiềm về lửa Tam muội

-Lửa Tam muội siêu việt     

Phần ứng dụng có hai bài tập:

-Hưởng lợi ích của lửa Tam muội bằng tư thế, hơi thở và quán tưởng

-Hưởng lợi ích của chân phúc.

 

Thỉnh thoảng thầy ghé qua thăm, hướng dẫn thêm.

Việc tập luyện theo thời khoá biểu nhất định. Hnàh giả khởi công vào lúc trời vừa sáng cho đến xế trưa. Khoác một áo vải mỏng, ngồi trên một tấm thảm hay ván gỗ, nhưng ít lâu sau, họ phải ngồi trên mặt đất hoặc trên băng giá.

Phương pháp tập luyện khác nhau tuỳ môn phái. Điểm giống nhau là quán tưởng các chủng tự. Phần lớn quán giữa rốn có bông sen bằng vàng, chính giữa có mặt trời chói lọi, toả ra tia sáng hình chữ ram. Trên chữ ram có chữ ma, tượng trưng cho Bồ tát Dorje Naldjorma. Sau đó quán tưởng mình hoà nhập vào các hình ảnh đó.

Chúng tự không phải là chữ viết, mà là rung động của âm thanh huyền bí có năng lực đặc biệt. Thí dụ chữ ram là lửa, nếu phát âm đúng thì âm thanh này phát sinh ra lửa.

Sau khi hợp nhất với Bồ tát Naldjorma, hành giả quán tưởng chữ A ở rốn và chữ Ha trên đỉnh đầu. Bấy giờ, một quả cầu lửa to bằng nắm tay sẽ sáng rực ở rốn, mỗi hơi thở sẽ như ống bễ quạt cho ngọn lửa này cháy to hơn, mỗi lần dồn khí xuống rốn sẽ kích thích quả cầu này toả nhiệt mạnh mẽ.

Hít hơi vào, giữ hơi lại và thở hơi ra đều nương theo một câu chú để giữ ngọn lửa đó không tắt. Nhờ trước đây đã luyện thuần thục cách quán tưởng xả bỏ tham sân si khi thở ra, và thu từ, bi, hỷ, xả khi hít vào, nên tâm được thanh tịnh. Nếu đốt giai đoạn, cẩu thả luyện khí mà chưa điều ngự được tâm, thì vọng niệm nảy sinh, luồng hơi nóng sẽ chạy loạn xạ vào các kinh mạch, là hành giả có thể điên loạn và tử vong.

Nếu tâm không còn vọng động, hành giả có thể dùng tư tưởng hướng dẫn luồng hơi nóng đi vào các thần mạch (uma). Người Tây Tạng có những đồ hình thần mạch, vận chuyển khí lực tâm linh, khác với các kinh mạch vận chuyển khí huyết thông thường. Hành giả quán tưởng như sau:

1-Thần mạch uma như sợi chỉ;

2-Uma lớn dần bằng ngón tay;

3-Uma to lên bằng cánh tay;

4-Uma choán trọn thân mình, toàn thân trở thành cái ống lửa;

5-Thân của hành giả hoàn toàn biến mất, hoà tan vào biển lửa vĩ đại bao phủ cả thế giới;

6-Biển lửa mênh mông đó nhỏ lại dần;

7-Toàn thân bao bọc bằng các ống lửa;

8-Ống lửa bằng cánh tay;

9-Ống lửa bằng ngón tay;

10-Hơi nóng tan dần, không còn lửa, tất cả là hư vô vắng lặng, tất cả không (Sunyata).

 

Truyền thống môn phái của những người áo vải (Repa) có đặt ra các cuộc thi như sau: vào một đêm thật lạnh, các môn đồ tụ tập ở bờ sông. Họ ngồi xếp bằng, không mặc quần áo. Những người khác nhúng các tấm chăn nỉ xuống nước lạnh rồi đắp lên mình họ. Gió lạnh khiến nước đóng thành băng ngay, tấm chăn trở thành lạnh cóng. Người luyện lửa Tam muội phải làm sao cho tấm chăn đó khô ráo ấm áp. Rồi lại nhúng chăn xuống nước, đắp lên mình, vận nhiệt công cho khô đi, cho đến sáng. Người nào làm khô nhiều tấm chăn nhất được coi như thắng cuộc. Thực tế, có người làm khô trên 40 tấm trong một đêm. Ít nhất phải làm khô 3 tấm mới được sử dụng “Repa” trong danh hiệu.

Đối với môn sinh mới, lúc tập thì cơ thể ấm áp, sau đó lại lạnh. Khi đã thuần phục, cơ thể lúc nào cũng ấm, nhiệt độ bên ngoài càng lạnh thì cơ thể tự động gia tăng sức nóng lên. Có người luyện lửa Tam muội thành công, thì không mặc quần áo nữa, cứ để loã thể. Khi quân đội Anh xâm chiếm Tây Tạng, các tu sĩ loã thể đó bị đưa ra xét về tội công xúc tu sĩ và bị giam.

Người Âu Mỹ cũng công nhận việc hô hấp làm điều hoà máu, khiến cơ thể ấm lên, và tập trung tư tưởng tự kỷ ám thị tạo một cảm giác ấm áp cho cơ thể. Nhưng khó tin vào năng lực gia trì thần chú. Đây là một sự kiện huyền bí, không thể giải thích, chỉ có người trong cuộc mới có kinh nghiệm.

Lửa Tam muội vốn xuất phát từ Hatha Yoga, nên người Ấn Độ cũng biết cách luyện. Cách đây không lâu, một nhà Yoga Ấn Độ đã đến phi trường Mạc Tư Khoa với chiếc áo mỏng vào một ngày mùa đông, làm những người tiếp đón hết sức ngạc nhiên.

Ngoài sức chịu lạnh, người Ấn còn có khả năng chịu nóng nữa. Họ có thể ngồi cạnh bốn đống lửa vào lúc giữa trưa hè, hoặc dẫm chân lên than cháy đỏ trong những lễ hội.

 

2-SẮC THÂN NHƯ HUYỄN

Đây là sự cải biến giáo pháp ảo ảnh (Maya) của Ấn Độ, vốn là pháp cơ bản của mọi trường phái Ấn Độ giáo, Vedanta và Phật giáo.

Giáo pháp ảo ảnh khẳng định toàn thể thế gian và vũ trụ, chủ quan hay khách quan, đều là ảo ảnh. Các đối tượng của giác quan, cơ thể vật chất, các nhận thức tinh thần, các quy nạp, suy rộng hay suy luận của chúng ta đều là hư ảo. Dù cho các khoa học gia đã phân loại và đặt tên cho các hình dáng khác nhau của vật chất hữu cơ và vô cơ, chính vật chất này cũng không tồn tại thực sự. Những màu sắc, âm thanh, tất cả những gì do giác quan cảm nhận, cũng như không gian hay kích thước, đều là những hiện tượng vô thường.

 

“Maya” là cái màn thần bí phủ lên thiên nhiên, đó là Đại Mẫu Isis che đậy sự thực. Chỉ do phương cách của Yoga mới vén được bức màn đó ra và đưa con người tới chỗ tự biết mình và tự chinh phục mình, từ đó mà vượt lên ảo ảnh. Chân lý tối hậu do ảo ảnh mà liên kết với sai lầm, nên vị đạo sư Yoga tách rời cặn bã ra khỏi vàng, tách vô minh ra khỏi hiểu biết đúng đăn. Bấy giờ chinh phục được thiên nhiên, con người mới giải thoát khỏi vòng nô lệ các hình tướng bên ngoài.

Trong quyển “Doctrine of maya” xuất bản tại London năm 1911. Giáo sư Shastri đã chứng minh hạt giống của giáo phái này đã có từ giai đoạn cuối của nền văn minh Veda, và qua quá trình tiến triển lâu dài, từ “maya”  dưới nhiều hình thức ngũ pháp chỉ những ý niệm khác nhau nhưng cơ bản có liên hệ nhau.

Trước tiên, “maya” là một dạng trí khong, năng lực, sức mạnh (sakti) và lừa dối. Điều này bao hàm một sức mạnh ý chí huyền bí thúc đẩy hành động về phần lừa dối, “maya” chỉ cái ánh sáng huyền bí của dáng vẻ bên ngoài làm cho người vô minh nhận thức sự đa dạng và nhị nguyên như có thật. Như nhà phù thuỷ tối thương, “maya” tạo ra cái ảo ảnh vĩ đại về vũ trụ, vũ trụ và các hiện tượng.

Ý nghĩa cơ bản của từ “maya” xuất phát từ thân từ “mà”, là đo lường. Cho nên “maya” là phóng chiếu hư ảo của vũ trụ, do đó Phạm Thiên vô hạn trở thành hữu hạn. Cũng do thân từ này, mà phát sinh ý nghĩa xây dựng, đưa tới ý niệm thế giới hiện tượng là công trình xây dựng thần bí của Phạm Thiên hay của tâm theo ý nghĩa của Phạt giáo Đại thừa.

Như con cháu của thời Veda cổ đại, giáo phái Maya được vạch lại trong các quyển Brahmara và Upanishad, từ đó có ý nghĩa chính là :ảo ảnh, được xác nhận vào thời đại Camkara. Xét về quá trình lịch sử, “maya” có hai khía cạnh chính yếu: nguyên lý sáng tạo – “maya” vốn là nguyên nhân tương đương với ý nghĩa “sakti” (huyền năng); sự sáng tạo hiện tượng “maya” là hậu quả tương đương với ý nghĩa ảo ảnh, bề ngoài.

 

Các nhà tư tưởng Ấn Độ đã chứng minh một cách khôn khéo rằng tâm vi mô không khác cũng không tách biệt với tâm vĩ mô. Họ nói rằng không khí đựng trong cái bình đậy nút  không khác gì không khí chung quanh cái bình, và nếu ta đập vỡ cái bình đi thì không khí bị nhốt trong đó sẽ trở thành không khí tự do. Thế thì, khi đập bể một cái vật chứa “maya”, tâm vi mô trở thành cái mà nó vốn đã và sẽ là” tâm vĩ mô.

Tâm nguyên thuỷ từ đó có “maya”, lúc nào cũng vô sinh và không phụ thuộc, ở ngoài phạm vi các sáng tao của nó. Đức Krisma, trong quyển Bhagavad Gita, nói chỉ một phần bản thể của mình, ngài đã tạo ra vũ trụ hữu hinhf nhưng vẫn ở bên ngoài cái gì ngài đã tạo.

Các thế giới và vũ trụ đều do tâm tạo, với chất liệu làm nên giấc mộng. Bản tính tạm thời của chúng là “maya”. Những sự vật, những hình tượng đều do tâm tạo, và tách rời tâm, chúng không tồn tại. Khi nhờ Yoga, khía cạnh vi mô của tâm được làm trong sáng qua lớp sương mù và ảo ảnh các sự vật phụ thuộc, hành giả tự thấy mình là đơn vị giải thoát khỏi ảo ảnh của “maya” của mọi ý niệm về đa dạng, về nhị nguyên, của tất cả huyền thuật phỉ lừa của thiên nhiên.

Như quyền năng kỳ diệu, năng lực chủ yếu dưới hình thức sức nóng, ánh sáng, chuyển động của các phân tử, như sự rung động mạnh mẽ của điệu vũ đời sống, như thiên nhiên từ đó vạn vật đi vào ảo ảnh, “maya” là nữ thần (sakti) vĩ đại, mẹ của sáng tạo, chứa đựng trong lòng hạt giống nguyên thuỷ, hay là quả trứng dưới hình thức ý tưởng tập thể bao trùm cả vũ trụ thể hiện xuyên qua vật chất bằng các dáng dấp bề ngoài.

 

Trải qua vô sô hình tướng, vô số giác quan của vạn vật, vô số cái vi mô, tâm tự biết mình là kẻ đã mơ vương quốc của “maya”. Nhưng chừng nào ảo ảnh của con người chưa bị sự giác ngộ bồ đề để xoá tan, cái đa dạng vẫn còn quên cái nhất thể.

Giáo pháp “maya” là nền tảng của triết học xem nhất thể bị nhận thức qua ảo ảnh là cái đa dạng, xem vĩ mô là tổng cộng những vi mô. Trong tư tưởng Hy lạp, điều này được tóm gọn trong câu của Xenophane: “Tất cả là một”. Sau đó, Parmenides, Platon và để tử là Plotin cũng dạy điều tương tự. Kant có lẽ chịu ảnh hưởng của Platon, đã nói rằng thế giới không có đời sống siêu hình, mà chỉ có đời sống kinh nghiệm hay hình tướng. Schopenhauer bày tỏ lòng biết ơn đối với Upanishad khi đưa ra những suy luận tương đương khẳng định rằng vũ trụ sinh ra từ tâm và có một đời sống tương đối so với tâm. Tính tương đối là một sự khẳng định mới mẻ của phương Tây về lý thuyết “maya” cổ xưa.

 

Như vậy, theo ý nghĩa của giáo pháp “maya” cái thể xác như huyễn mayavi-rupa của triết học Ấn Độ, giống như vũ trụ mà nó làm một thành phần, chỉ là một hình tướng trong thiên nhiên. Giống như trái đất và vũ trụ mà nó nảy sinh ra, nó có một đời sống tương đối như không có thật.

Như là một hình tướng giống ảo ảnh thần bí, như thể xác huyễn của con người chỉ là biểu lộ của Tâm theo nghĩa của từ Tây Tạng “tulkou” dựa vào sự biểu lộ vật chất của ứng thân (nirmana –kaya). Nó chỉ là sản phẩm của “maya”, của ý muốn sống, là con cháu của ham muốn, là cái vô luân hồi của tâm.

Công phu tu tập có ba phần:

- Nhận thức thể xác bất tịnh vô thường như huyễn

- Nhận thức thể xác trong sạch vô thường như huyễn

- Nhận thức vạn vật như huyễn.

 

3. GIẤC MỘNG:

Đây là giáo pháp tiếp theo, minh hoạ giáo pháp “maya”. Nó chứng minh rằng, cũng như các kinh nghiệm của giác quan lúc thức đều là ảo ảnh, cả hai trạng thái này là hai cực của ý thức con người, Nói một cách khác, thiên nhiên là giấc mộng của cái tâm duy nhất. Ngày nào con người chưa chinh phục thiên nhiên, và vượt lên “maya”, nó vẫn còn ngủ mê, mơ giấc mộng của Vô minh. Dù ở thế gian này hay trong trạng thái sau cái chết, toàn thể kinh nghiệm trong chuỗi luân hồi hay nghiệp quả chỉ là giấc mộng.

Chỉ khi thức giấc mới biết mình đã mộng, chỉ khi tỉnh trạng thái chân thật vô điều kiện thì người mơ giấc mộng vô minh mới hiểu được tính chất ảo ảnh của luân hồi. Chúng ta thường xem giấc mộng là không có thực và lúc thức là có thực. Tuy nhiện, theo nghĩa chặt chẽ thì cả hai đều không có thực, vì chúng tuỳ thuộc các nhận thức khách quan và giác quan, nhận thức khi mộng thì ở bên trong, nhân thức khi thức thì ở bên ngoài. Chỉ có aam mới biết các cảm giác do giác quan, và không hề phân biệt chúng đến từ bên trong hay bên ngoài. Tâm cũng như tấm gương, phản chiếu các đối tượng của giác quan. Ngoài tâm ra, chúng không có chỗ đứng vì theo giáo pháp “maya”, chúng chỉ là những hiện tượng bề ngoài.

Nhờ phân tích kỹ lưỡng các giấc mộng và các trắc nghiệm tâm lý làm trên chính bản thân minh, mà nhà yogi đạt tới nhận định rằng toàn thể nội dung lúc thức cũng như lúc mộng đều là những hiện tượng hão huyền.

 

Như con nhện rút chất liệu lưới nhện ra từ thể xác của nó, rồi lại thu vào đó, cái tâm toàn thể mà người Ấn nhân cách hoá là Phạm thiên, lấy từ bản thân ra vật chất sáng tạo ra vũ trụ rồi lại thu hút nó vào. Mạng nhện của Phạm Thiên là “maya” trong đó mỗi sinh vật rơi vào và bị ràng buộc bởi những sợi dây luân hồi, hay là bánh xe đời sống dính với nghiệp quả, tảng đá của Promethee ràng buộc nhân loại làm mồi cho các con ác điểu của dục vọng.

Phạm Thiên ngủ và thức; khi ngủ thì ông mộng thấy sáng tạo thế gian; khi thức thì thấy giấc mộng chấm dứt. Giấc mộng của ông là luân hồi, lúc thức là Niết Bàn. Trong tâm có cội rễ của cái được tạo và cái vô tạo, của luân hồi và Niết Bàn và trong sự hiểu biết tối thượng của Tâm toàn thể, cả hai đều hợp nhất.

Toàn thể mục đích của giáo Pháp về giấc mộng là khuyến khích nhà Yogi thức tỉnh giấc mộng của ảo ảnh, ác mộng của đời sống, phá vỡ những ràng buộc của “maya”, và đạt tới sự bình an về tâm linh và niềm hỷ lạc về tự do, như Đấng Toàn Giác Thích Ca Mâu Ni đã làm.

 

Công phu tu tập gồm bốn phần:

- Tìm hiểu bản chất của giấc mộng.

- Chuyển hoá nội dung của giấc mộng.

- Nhận thức giấc mộng là huyễn, tham thiền về tính chất của giấc mộng.

 

4. ÁNH SÁNG TRONG SUỐT

Ánh sáng trong suốt tượng trưng cho tâm thức trong sáng của Niết Bàn, tâm thức siêu thế gian của đấng giác ngộ và hoàn toàn. Đó là tia sáng huyền bí của pháp thân (Dharma – Kaya), vượt ra mọi tối tăm của vòng luân hồi. Nó không thể mô tả, ta chỉ biết nó mà thôi, và biết nó tức là biết bản thể chân thật của vạn vật. Không màu sắc, không thuộc tính, đó là ánh sáng trong suốt, không giới hạn, đó là trí tuệ thấm nhuần mọi vật; không thể nào biết được bằng ngôn từ của luân hồi, đó là chân không vô hình.

 

Ánh sáng trong suốt được mọi người cảm nhận, tức thời ngay khi chết, được các đạo sư Yoga kinh nghiệm trong tình trạng đại định thâm sâu, và các vị Phật thấy thường trực. Thể hiện ánh sáng trong suốt một cách có ý thức là đồng nghĩa với việc đạt tới Niết Bàn, quả vị Phật. Chết rồi thì khó mà làm được việc này, quyển tử thư của Tây Tạng dạy thế. Cho nên đạo sư thúc giục môn đồ chớ xao nhãng cơ hội làm người để chiếm kho tàng lớn lao.

Một trong những đạo sư minh triết của Tây Tạng đã mô tả ánh sáng trong suốt với lời lẽ rung cảm như sau : “ Khó mà đạt tới tri thức vô sắc. Cũng khó mà giải thoát nghiệp quả và luân hồi, thể hiện ánh sáng trong suốt, chói lọi như tia sáng hỗn hợp của viên đá quý, lửa, mặt trăng và mặt trời vậy. Từ đó phát sinh những tia sáng rực rỡ trong tăm tối. Từ đó phát sinh ánh sáng chói lọi và sức nóng của mặt trời, chiếu qua mặt trăng, đem lại sự mát mẻ và trị tuệ thấm nhuần vạn vật. Như thế, chân không cơ bản soi sáng các hiện tượng vật chất thiên nhiên, làm biểu lộ tất cả các hệ thống của thế gian”.

 

Công phu tu tập gồm ba phần : giữ ánh sáng trong suốt lúc thức, lúc ngủ, lúc chết.

 

5. THÂN TRUNG ẤM :

Được gọi là giáo pháp “Bardo”, tóm tắt quyển “Bardo-Thobol” ( thường được dịch là tử thư Tây Tạng). Ở đây nó được coi là phần phụ thuộc của các giáo pháp ánh sáng trong suốt và “maya”, vì nó xem trạng thái sau khi chết là giấc mộng, kéo dài và tuỳ thuộc vào trạng thái cũng hư ảo gọi là cuộc sống.

 

Vì vậy, quyển tử thư của Tây Tạng nhấn mạnh đến việc tập luyện Yoga có kết quả lúc ính thời, để có quyền năng giữ vững quyết tâm trong trạng thái sau khi chết, khi ánh sáng trong suốt xuất hiện rồi tan biến dần trong tâm thức của người chết, bấy giờ mới thật sự chết và kinh nghiệm thân trung ấm.

Lúc này bị chìm sâu hơn vào những ảo ảnh kỳ lạ xuất phát từ “ maya” mà lúc sinh thời do nghiệp quả quy định, rồi đến lúc sẽ nhập vào một mầm giống mới để tiếp tục sống nô lệ cho dục vọng và bị vô minh xâm chiếm.

Nếu trước khi chết, đã làm chủ được Yoga thì vào lúc lìa đời, bằng một cố gắng phi thường của ý chí mà đi vào đại định thâm sâu, cảm ứng với ánh sáng trong suốt, thì cái chết không làm gián đoạn tâm thức được. Cho nên khi khác với người chưa giác ngộ, hành giả vượt lên cái hôn mê trong vô thức, thường tiếp theo sau sự tách rời tâm thức với thể xác. Trừ phi bị sát hại thình lình, không đạo sư Yoga nào lại chết như người thường. Người bỏ cái thể xác như bộ quần áo mà chìm sâu vào cơn thiền định luôn luôn được ánh sáng trong suốt chiếu sáng.

 

Bậc Bồ Tát đi có ý thức vào con đường tái sinh lúc thích hợp, “hiện hữu trong bụng mẹ một cách có ý thức, lưu lại đó một cách có ý thức và ra khỏi đó một cách có ý thức “. ( Samgiti Sutta).

Thể hiện mạnh mẽ việc đi tuỳ ý với một tâm thức liên tục, không gián đoạn, xuyên qua mọi trạng thái sống hư ảo, với một cái tâm trí vi mô hoà hợp với tâm vĩ mô, là mục đích của Phật Pháp. Người đã chinh phục “maya” trở thành chủ nhân của sống chết, một ánh sáng trong tăm tối, một người hướng dẫn cho kẻ đi lạc lối, một người giải phóng cho kẻ nô lệ. Theo ngôn từ siêu việt của Đạt Thừa, thì không còn khác biệt giữa luân hồi và NIết Bàn đối với người ấy nữa. Như một mãnh sư đi lại tự do trên núi cao, người ấy đi lại tuỳ ý qua các kiếp sống.

 

Theo tượng trưng bí truyền của các đạo sưTây Tạng, tiến trình chết có thể so sánh với ngọn đền dầu. Bằng lối tương tự, họ giải thích các hiện tượng mà người chết cảm nhận, như ánh sáng, âm thanh, và hình tướng thấy vào lúc và sau khi chết.

Tất cả những thứ này đều là hư ảo, chỉ là những ảo ảnh xuất phát từ các ý tưởng của người cảm nhận, hậu quả trực tiếp của các tác nhân kích thích tạo ra từ quá trình chết phản ứng lên tâm trí. Nói cách khác, những xung động tâm lý do cái chết phát sinh, đã được hiện thân trong giấc mộng sau khi chết.

Trong lúc tiến trình tái sinh, các hiện tượng tương tự sẽ xảy ra theo thứ tự ngược lại. Ở Tây Tạng có nhiều sách vở nói về sự bác bỏ hoặc chấp nhận một thể xác con người, cũng như mô tả trạng thái trước khi sinh ra tâm thức che và hướng dẫn bào thai trong bụng mẹ. Công phu tu tập gồm ba phần : thể hiện pháp thân, báo thân và ứng thân trong trung thân ấm.

 

6 – CHUYỂN TÂM THỨC:

Tiếng Tây Tạng viết là “Rnampar-shes-pa” Phowa là một phương pháp Yoga bí truyền được giữ kín ở Tây Tạng và Ấn Độ.

Sự thành công của việc chuyển tâm thức tuỳ thuộc vào “Kandalini-yoga”. Quyển “Jetsun-Kahbum so sánh tiến trình này với “con chim bay ra cửa sổ trên mái nhà”. Cửa sổ này biểu tượng cho lỗ trống “Brahma” ở trên đỉnh đầu, được sự luyện tập “phowa” mở ra. Con chim là tâm thức, bay ra lúc thể xác chết hoặc lúc tập luyện. Nhờ đó mà nhà Yogi vĩ đại vượt lên trên tiến trình thông thường, bỏ đi cái thể xác già cũ, chuyển qua một thể xác khác mà không làm mất đi sự liên tục của tâm thức. Theo nghĩa bí truyền, như thánh Phao lô nói, cái mồ đã mất đi que thúc, cái chết đã mất đi chiến thắng, nhà Yogi trở thành người chinh phục được sự sống và cái chết.

 

Công phu tu hành gồm nhiều bài tập quán tưởng nhằm chuyển tâm thức vào pháp thân, báo thân hoặc ứng thân.

Đăng ký học
Họ tên
Số điện thoại
Lưu ý của học viên

Sản phẩm được ưu chuộng nhất