Himalaya Yoga Slide 4 slide3 slide2 slide1

Tây Tạng, lực hấp dẫn kỳ diệu

Tây Tạng phiên âm từ tiếng Hoa “Xizang”, được biết đến như một vương quốc huyền bí của Phật Giáo và là một cao nguyên cao nhất thuộc dãy Hy Mã Lạp Sơn. Với độ cao trung bình vào khoảng 4.900m, Tây Tạng còn được gọi là “Mái nhà của thế giới”, “Đất nước của tuyết” hay “Xứ sở hạnh phúc đã mất” (Lost Shangri La).

 

Không phải ngẫu nhiên mà thế giới  ví Tây Tạng là cực thứ ba của Trái Đất. Ngoài việc giống Nam và Bắc Cực là cùng có điều kiện khí hậu vô cùng khắc nghiệt, địa hình phức tạp, Tây Tạng  còn là thế giới của tâm linh với 16.000 tu viện lớn nhỏ. Đó cũng là quê hương của thiên sử thi Vua Gess dài nhất thế giới, được phát hiện cách đây hơn 1000 năm (đã được đưa vào danh sách Di sản Văn hoá thế giới). Sau một thời gian dài nghiên cứu, các nhà khoa học đã vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra người Tây Tạng là dân tộc duy nhất trên thế giới, có một số gen đã bị biến dạng để thích nghi với môi trường sống. Tại một sườn núi cách Lhasa – thủ phủ của Tây Tạng 85km, người ta đã tìm thấy 19 dấu chân và dấu tay người sống cách đây 20.000 năm.

 

Hiện nay, Khu Tự trị Tây Tạng (Trung Quốc) có diện tích 1,2 triệu km2 (gấp 4 lần diện tích Việt Nam) nhưng dân số chỉ có 2.700.000 người. Có thể nói Tây Tạng là vùng đất thử thách sức lực của con người, bởi độ cao khá lớn và môi trường khô khan. Khí hậu ở đây rất khô suốt 9 tháng trong năm. Phía Bắc Tây Tạng có nhiệt độ cao trong  mùa hè, nhưng mùa đông rất lạnh. Do địa hình phức tạp nên một thời gian khá dài, Tây Tạng hầu như bị ngăn cách với thế giới bên ngoài. Tây Tạng cũng nổi tiếng là một địa danh bí ẩn với du khách từ xưa đến nay, bởi ở đây có nhiều danh lam thắng cảnh và một số phong tục tập quán lạ. Phong tục làm Mạn Đà La tức các vòng tròn bằng cát nhuộm màu, với đủ các loại hình thù đẹp mắt luôn hấp dẫn những ai từng đặt chân đến nơi này.

 

Thành phố Lhasa  - thủ đô của  Tây Tạng (còn được gọi là Thành phố của Mặt Trời vì luôn có ánh nắng mặt trời). Lhasa theo tiếng địa phương có nghĩa là “đất bùn của dê”, do gốc gác thành phố được xây dựng trên đất bùn do các chú dê vận chuyển đến. Đây là một di sản văn hoá nổi tiếng thế giới được xây dựng từ năm 637, trên một ngọn đồi có tên là Marpo Ri có độ cao hơn 3700 m so với mực nước biển.

 

Nằm ngay Trung tâm Lhasa là Chùa Đại Chiêu (Jokhang Buđhist Temple)  với khu vườn rộng 100 mẫu Anh và 370 phòng. Ngôi chùa  lộng lẫy trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa vẫn là một tu viện nổi tiếng của Phật giáo Tây Tạng. Chùa Đại Chiêu do công chúa Brhtuki (vợ của vua Tùng Tán Cương bố – người kiến tạo kinh đô Lhasa, thiết lập nên một nước Tây Tạng hùng mạnh trải dài từ nam Mông Cổ đến chân Hi Mã Lạp Sơn) xây dựng từ 642 đến 653. Chùa  có 4 tầng, mái mạ vàng, hầu hết hệ thống cột, cửa gỗ đã qua gần 1500 năm vẫn bền vững. Trong gian chính điện đặt bức tượng Jowo Rinpoche( Đức Phật Thích Ca lúc 12 tuổi), thiêng liêng nhất Tây Tạng. Các tín đồ phật giáo tin rằng, Lhasa  là trung tâm  của thế giới và cái nhân vũ trụ chính là Chùa Đại Chiêu. Do đó tất cả các Lạt Ma trị vì cung Polata đều làm lễ thụ pháp tấn phong tại đây.  Như nhiều đền, chùa Tây Tạng khác, quanh chùa Jokhang cũng đặt nhiều pháp luân chuông bằng đồng lớn (xoay chuông để cầu bình an, phước lành). Những phật tử hành hương tới đây đều đi một vòng quanh chùa theo chiều kim đồng hồ, vì đó là chiều quay của trái đất xung quanh mặt trời. Người Tây Tạng cho rằng phải quay theo trục chuyển động tự nhiên, con người mới có thể hoà đồng cùng vũ trụ. Chùa Đại Chiêu đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, là một điểm hành hương thiêng liêng của tín đồ Phật giáo và hầu như người Tây Tạng nào cũng ước mơ ít nhất một lần trong đời được đặt chân đến đây. 

Một địa danh cũng không kém phần nổi tiếng, đó là Cung điện Potala – còn được gọi là cung điện mùa hè của các vị  Đạt La Lạt Ma. Cung điện có kiến trúc độc đáo cao 13 tầng với 1000 phòng, 10.000 miếu thờ và các lăng mộ của 8 vị Đạt La Lạt Ma. Cung điện Polata được chia thành 2 cung nhỏ là Bạch Cung (White Palace) và Hồng Cung (Red Palace). Nơi đây còn lưu giữ nhiều bức tranh quý giá, nên càng hấp dẫn khách du lịch.

 

Cách Lasha 225km về phía tây là thành phố Shigatse - một thành phố Phật giáo rất quan trọng của Tây Tạng. Nơi đây nổi tiếng vì có ngôi chùa Tashilhunpo được xây dựng vào năm 1447 và Đại Cầu Khúc Thuỷ - là một trong 3 cây cầu rất đẹp bắc qua sông Yarlung Tsangpo và Chùa Tashilhunpo (là nơi ở của các vị  Đạt La Lạt Ma). Vượt qua đèo Gangbala (cao 4.800 m so với mực nước biển), chúng ta sẽ gặp Dương Hồ (Yanmadrok Lake) có phong cảnh đặc trưng tuyệt vời của cao nguyên Tây Tạng.  

 

Nếu ở phía tây thành phố Lhasa là nơi tập trung đông người Hán, thì phía đông người Tây Tạng quần tụ thành khu Chong - Saikang còn có tên là Barkhor (như khu Chợ Lớn của người Hoa ở TP. Hồ Chí Minh), để cố gắng bảo tồn bản sắc văn hoá độc đáo của mình. Đến Chong - Saikang khách lữ hành luôn bị chìm đắm trong một không gian đầy màu sắc và âm thanh rì rầm,  thần bí ở những khu dân cư có lối đi nhỏ và nhà san sát nhau. Nhà của người Tây Tạng vách xây bằng đá tảng theo kiểu tứ hợp viện (bốn phía là nhà, có chung cổng và một sân trong lớn, để bảo vệ con người trước sự khắc nghiệt của thời tiết). Trên các mái nhà luôn treo đầy những tấm phướn lụa màu sắc sặc sỡ, giống như chúng được treo ở các nơi tôn nghiêm đền, chùa, hay các điểm mốc đỉnh đèo, giữa chợ... Đó chính là phướn cầu nguyện – một nét độc đáo của người Tây Tạng. Những mảnh lụa nhiều màu in chi chít kinh Phật, sẽ rải những điều tốt lành đến muôn nơi. Lụa trắng tượng trưng cho mây cầu bình an, lụa vàng tượng trưng cho đất cầu tài lộc; lụa đỏ tượng trưng cho lửa, lụa xanh là cỏ, xanh dương là bầu trời cầu tình duyên, hôn nhân...

 

Tại khu Sai kang cũng đặt nhiều tháp hương khổng lồ, cao hơn 3m. Chúng có thể ở gần chợ, hoặc ở một hốc tường trên đường đi…  Khác với tín đồ phật giáo ở nhiều nơi trên thế giới, thắp hương thờ cúng phải ở đền, chùa tôn nghiêm, trang trọng, người Tây Tạng quan niệm sống là phục vụ đạo pháp, đời sống vật chất là phương tiện vươn tới đỉnh cao tâm linh nên họ có thể bày tỏ “lòng thành” của mình ở khắp mọi nơi. Người ta luôn mang theo “cỏ hương”(thứ bột thay cho nhang) bên mình để bỏ vào các tháp hương. Họ cũng dành phần lớn thời gian để cầu nguyện, thờ phụng ít để tâm đến các việc khác. Đó chính là động lực để họ sống và tồn tại giữa thiên nhiên khắc nghiệt.

 

Mùa hè, người dân bản xứ Tây Tạng chủ yếu dựng lều sống bằng nghề chăn nuôi giữa thảo nguyên bao la. Một gia đình nuôi hàng nghìn dê, cừu và trâu lùn Yak Tây Tạng. Đó là tài sản quý giá nhất của họ, vì trâu Yak cho thịt để ăn, sữa làm ra bơ, phomát, sữa tươi …da lông làm quần áo, dày dép. Đặc biệt, phân của trâu Yak là một loại chất đốt không thể thiếu cho mỗi gia đình, giúp họ nấu ăn và sưởi ấm trong những tháng mùa đông giá rét.  

Người Tây Tạng cho rằng, tình yêu thương chính là suối nguồn tạo ra hạnh phúc. Đó cũng là giá trị căn bản cho bất kì loại tín ngưỡng nào. Họ cũng có thái độ khác hẳn với người phương Tây về cái chết. Họ quan niệm thể xác chỉ là một lớp vỏ, cái vỏ vật chất bên ngoài bao bọc linh hồn bất diệt bên trong. Sau khi chết 3 ngày thể xác mới thật sự chết hẳn và linh hồn sẽ giải thoát, thăng lên cõi khác để đầu thai vào một sự sống mới. Vì thế, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào người Tây Tạng vẫn là dân tộc “thần bí” mà phải mất rất nhiều thời gian, chúng ta mới giải mã được phần nào. Điều đó làm nên lực hấp dẫn kì diệu của Tây Tạng với thế giới.    

 

THUỲ DƯƠNG   

Đăng ký học
Họ tên
Số điện thoại
Lưu ý của học viên